Tìm hiểu về Bakuchiol

Tìm hiểu về Bakuchiol

Bakuchiol - một thành phần đang nổi bật trong giới skincare do khả năng chống lão hóa tương tự như Retinol nhưng không có tác dụng phụ!! Liệu điều này có là sự thật? Hãy cùng tìm hiểu với mình trong bài viết sau

I) Bakuchiol

1) Khái niệm

Bakuchiol là một phenol meroterpene có nhiều trong hạt và lá của cây Psoralea corylifolia (Phá cố chỉ) và cũng đã được tìm thấy ở nhiều cây khác, ví dụ như P. grandulosa, P. drupaceae, Ulmus davidiana, Otholobium pubescens và Piper longum [4,2,6,7].

Nó được sử dụng phổ biến trong y học Ấn Độ cũng như Trung Quốc để điều trị nhiều loại bệnh khác nhau. Bakuchiol đã được nghiên cứu là có tác dụng chống viêm, chống oxy hóa, chống khối u, chống vi khuẩn, gây độc tế bào, hỗ trợ ngăn ngừa tổn thương gan và các cơ quan nội tạng [3,4,10,12,13].

2) Giải mã cơn sốt Bakuchiol

Bakuchiol được quan tâm gần đây trong lĩnh vực mỹ phẩm do được xem như chất thay thế retinol, có tác dụng như retinol nhưng lại không có quá nhiều tác dụng phụ. Liệu thực tế có như vậy hay không hay đây chỉ là chiêu trò marketing của các hãng mỹ phẩm?

Để hiểu rõ hơn, mời các bạn đọc qua một số nghiên cứu tóm gọn về Bakuchiol mà mình tìm được nhé!

II) Nghiên cứu ban đầu về Bakuchiol

Thực tế từ cuối những năm 90 thể kỷ 20 đã có những nghiên cứu đầu tiên về Bakuchiol, tuy nhiên lúc này chỉ là các nghiên cứu trong ống nghiệm và động vật, và cũng chỉ xác định các tính chất cơ bản của Bakuchiol chứ chưa nghiên cứu Bakuchiol ở dạng bôi hay tác động của chất này lên da.

Năm 1996, nghiên cứu về ảnh hưởng của Bakuchiol lên các chức năng của bạch cầu và một số phản ứng viêm ở chuột được thực hiện và tác giả kết luận rằng Bakuchiol là một chất chống viêm tự nhiên [2].

Sau đó, vào năm 2001 nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn của Bakuchiol được thực hiện. Trong nghiên cứu này, các hoạt động kháng khuẩn của bakuchiol đối với một số vi sinh vật đường miệng đã được đánh giá trong ống nghiệm và kết quả cho thấy Bakuchiol có tác dụng diệt khuẩn đối với tất cả các vi khuẩn đường miệng được thử nghiệm trong nghiên cứu. Từ đó, tác giả đề xuất bakuchiol sẽ là một hợp chất hữu ích để phát triển các chất kháng khuẩn chống lại các mầm bệnh ở miệng và có tiềm năng lớn để sử dụng trong các chất phụ gia thực phẩm và cũng như nước súc miệng để ngăn ngừa và điều trị sâu răng [6]

Sau đó, lần lượt các thí nghiệm xác định tính chất của Bakuchiol được thực hiện, ví dụ như khả năng chống viêm, hỗ trợ chống lại khối u, khả năng hỗ trợ điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (một loại ung thư phổi), khả năng chống lại một số chủng nấm [5,7,8,15].

III) Nghiên cứu tạo nên "cơn sốt" Bakuchiol

1) Khả năng trị mụn của Bakuchiol

Vào năm 2011, có một bài viết về tiềm năng trị mụn của Bakuchiol đã được đăng tải trên tạp chí khoa học Cosmetics & Toiletries magazine [3].

Trong nghiên cứu này, tác giả đã lập luận và tổng hợp các thông tin từ các nghiên cứu trước về tiềm năng của Bakuchiol trong trị mụn, cụ thể là nó có thể tác động đến nhiều yếu tố gây nên mụn, trong đó các 4 đặc điểm sinh lý bệnh chính là:

- Sự tiết dầu quá mức

- Quá trình sừng hóa bất thường

- Vi khuẩn P.acnes

- Tình trạng viêm da

Ngoài ra, với khả năng không gây kích ứng, không nhạy cảm với ánh sáng và dễ sử dụng nên tác giả đã gợi ý Bakuchiol là một chất có thể hỗ trợ mụn hoặc bổ sung và / hoặc tăng cường hiệu quả của các chất điều trị mụn được dùng hiện nay.

Hãy tìm hiểu một chút về một số cơ chế của Bakuchiol khi trị mụn được lập luận trong nghiên cứu này:

- Bakuchiol hỗ trợ tiết dầu quá mức bởi sự ức chế tổng hợp enzyme 5-α-reductase. Enzyme này chuyển đổi testosterone thành DHT, liên kết với các thụ thể androgen trên tuyến bã nhờn và gây ra sản xuất dầu quá mức, từ đó tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển gây viêm và mụn. Ở nồng độ 0.001% (10 µg / mL), cả bakuchiol và retinoic acid đều cho thấy 5-α-reductase giảm khoảng 40% khi so sánh với giả dược.

- Bakuchiol thể hiện khả năng kháng khuẩn và kháng nấm. Theo các nghiên cứu dẫn chứng trong bài, Bakuchiol thể hiện hoạt tính ức chế P.acnes tốt, và đồng thời cũng hiệu quả với cả các vi sinh vật khác được xem là có vai trò trong sinh lý bệnh mụn như Staphylococcus và Candida (Staphylococcus - sinh vật này đặc hữu xuất hiện trong các nang lông bị mụn trứng cá, trong khi ở nang lông bình thường thì không có). Nồng độ tối thiểu để ức chế các khuẩn trên là 2 µg / mL (0.0002%). Ngoài ra, thông thường thì Salicylic acid là một chất ức chế P.acnes kém, khi kết hợp với Bakuchiol thì cả hai có tác dụng hiệp đồng trong việc ức chế P.acnes mạnh hơn [3,12].

- Bakuchiol, phản ứng viêm và quá trình keratin hóa: Nồng độ matrix metalloprotease (MPP) ở da mụn trứng cá cao hơn nhiều so với da bình thường, và chúng cũng đóng vai trò chủ yếu trong quá trình tạo nên viêm và phát triển các vấn đề da. Ngoài ra, MPPs gây ra sự phá hủy các protein nền ngoại bào như collagen, fibronectin, laminin và elastin. Việc giảm thiểu sự hiện diện của các enzyme phá hủy cấu trúc nền (ma trận ngoại bào) (ví dụ như collagenase và elastase) trong các tổn thương mụn trứng cá sẽ có thể giảm sẹo ở vùng da bị mụn trứng cá. Bakuchiol đã được chứng minh là có thể ức chế cả 2 enzyme collagenase và elastase. Đối với collagenase, bakuchiol 0,1% sẽ ức chế 50% và đối với elastase thì bakuchiol ở tất cả các nồng độ thí nghiệm đều có tác dụng ức chế (0.0001% - 0.0005%, tuy nhiên có xu hướng phản ứng ngược lại khi liều càng cao). Ngược lại, retinol lại không thể hiện khả năng ức chế elastase. Bên cạnh đó, bakuchiol cũng có hoạt tính ức chế vừa phải đối với COX-2 và hoạt tính ức chế mạnh đối với COX-1 (một phần của phản ứng viêm). Ngoài ra, một lượng lớn Nitric oxide (NO) tạo ra sau sự cảm ứng của gen NO synthase (iNOS) cũng có liên quan đến cơ chế sinh bệnh của viêm, và bakuchiol cũng hỗ trợ cải thiện vấn đề này.

- Bên cạnh đó, sự phân hủy oxy hóa của squalene và các lipid da khác (Peroxy hóa lipid) có thể không chỉ là hậu quả của quá trình mụn trứng cá mà là nguyên nhân gây ra mụn. Một số nghiên cứu đã xem xét và đánh giá quá trình peroxy hóa lipid thực tế có thể trực tiếp gây mụn cho da! Một số nhà nghiên cứu khác cũng báo cáo rằng các thành phần của bã nhờn, đặc biệt là Squalene (một chất nhạy cảm với quá trình oxy hóa, không phải Squalane) cho thấy khả năng gây ra mụn khi bị oxy hóa. Bakuchiol đã được xem xét và báo cáo là có tác động đến vấn đề này, làm giảm quá trình Peroxy hóa lipid và bảo vệ ty thể khỏi quá trình Peroxy hóa liqpid. Do đó, Bakuchiol được cho là sẽ bảo vệ Squalane và các lipid khác của da khỏi quá trình Oxy hóa do hoạt động ức chế Peroxy hóa lipid của nó.

- Ngoài các lập luận về khả năng trị mụn của Bakuchiol, tác giả còn thực hiện một nghiên cứu lâm sàng về khả năng điều trị mụn trứng cá của Bakuchiol và Salicylic acid (SA).

Bốn công thức/ sản phẩm khác nhau được thử nghiệm, bao gồm: a) 1% bakuchiol, b) 2% salicylic acid, c) 1% bakuchiol (và) 2% salicylic acid và 4) giả dược - tức là không có hoạt tính. Mỗi công thức được thử nghiệm trên 15 tình nguyện viên với tổng số 60 tình nguyện viên bị mụn trứng cá từ nhẹ, vừa đến nặng và trước khi tham gia nghiên cứu, mỗi đối tượng đã được bác sĩ da liễu kiểm tra và tình trạng da mặt của họ (tuy nhiên có 4 người không hoàn thành). Mỗi công thức được sử dụng mỗi ngày hai lần và sau đó tỷ lệ phần trăm giảm mụn sẽ được xác định bằng Hệ thống chấm điểm mụn - tính cả số mụn viêm và mụn không viêm trên khuôn mặt của các tình nguyện viên.

Nghiên cứu lâm sàng thí điểm này đã chứng mình rằng bakuchiol làm giảm mụn hiệu quả và sẽ càng hiệu quả hơn nếu kết hợp với Salicylic Acid (SA). Kết quả nghiên cứu cho thấy, công thức chứa 1% bakuchiol và 2% SA cho thấy giảm gần 70% tổn thương mụn; kết quả tốt nhất tiếp theo là Bakuchiol 1% giúp làm giảm khoảng 57% tình trạng mụn, trong khi SA 2% chỉ làm giảm khoảng 48% mụn. Và như đã dự đoán trước thì nhóm đối chứng sử dụng giả dược không có cải thiện về mụn trứng cá, theo đánh giá của hệ thống phân loại mụn. Từ kết quả này cho thấy Bakuchiol là một thành phần trị mụn khá có tiềm năng, đặc biệt là sẽ hiệu quả hơn khi kết hợp với Salicylic Acid.

2) Khả năng chống lão hóa của Bakuchiol

Vào năm 2014, một nghiên cứu về Bakuchiol trên tạp chí International journal of cosmetic science [4] đã tạo ra sự quan tâm lớn về hoạt chất này khi tác giả chứng minh Bakuchiol có chức năng giống như Retinol và được chứng minh lâm sàng là có tác dụng chống lão hóa. Kể từ bài báo này, ngày càng nhiều các nghiên cứu so sánh Retinol và Bakuchiol được thực hiện và các hãng mỹ phẩm cũng bắt đầu bổ sung Bakuchiol vào các dòng sản phẩm mới của họ.

Hình 1: Cấu trúc của Retinol (A) và Bakuchiol (B) [4]

Trong bài báo này, tác giả nói rằng Bakuchiol không có cấu trúc tương đồng với Retinoids nhưng lại có thể hoạt động như một chất có chức năng tương tự như Retinol. Các đồ thị Volcano (Volcano plots) cho thấy sự tương đồng lớn của retinol và bakuchiol trên biểu hiện gene. Sự tương đồng này được xác nhận khi so sánh song song sự điều chế của các gene riêng lẻ , cũng như về mức độ protein bằng ELISA (enzyme-linked immunosorbent assay - một ứng dụng được sử dụng rộng rãi để phát hiện và định lượng protein và kháng nguyên từ các mẫu khác nhau). Bên cạnh đó, chức năng tương tự retinol của Bakuchiol đã được xác nhận thôn qua việc điều chỉnh tăng Collagen loại I và IV trong nghiên cứu DNA microarray và cũng cho thấy sự kích thích của collagen loại III trong mô hình nguyên bào sợi trưởng thành.

Thực tế là retinol và bakuchiol không có sự tương đồng về cấu trúc, nhưng chúng lại thể hiện biểu hiện gen tương tự nhau, đặc biệt là trên một số gen và protein chống lão hóa chính, điều này rất đáng chú ý. Bên cạnh đó, một số sự khác biệt đáng chú ý trong biểu hiện gene được ghi nhận ở các gene RARB và RARG giữa Bakuchiol và retinol và từ đó tác giả gợi ý là Bakuchiol không có tác dụng phụ nhiều như retinol. Bakuchiol có một số ưu điểm đáng kể so với retinol, bao gồm độ ổn định quang hóa (ổn định dưới ánh sáng, không nhạy cảm dưới ánh sáng) và thủy phân tuyệt vời, an toàn và dễ thêm vào các công thức mỹ phẩm do khả năng hòa trộn với nhiều loại chất làm mềm và chất hòa tan khác nhau. Bakuchiol có thể được sử dụng trong buổi sáng do tính ổn định của nó. Điều thú vị là bakuchiol là một chất ổn định tuyệt vời của retinol trong môi trường oxy hóa quang. Đặc tính này có thể giúp giảm căng thẳng oxy hóa gây ra bởi retinol khi kết hợp với bakuchiol và từ đó có thể dễ dàng sử dụng Retinol ở nồng độ cao hơn. Ngoài ra, bên cạnh vai trò là một chất có chức năng tương tự như retinol, bakuchiol còn có thể tăng cường sự sẵn có của retinol nội sinh.

Ngoài ra, trong nghiên cứu này cũng bao gồm một thí nghiệm lâm sàng trong 12 tuần để kiểm tra tác dụng của Bakuchiol. Sau 12 tuần với tần suất sử dụng 2 ngày 1 lần một sản phẩm chứa 0,5% Bakuchiol, 17 bệnh nhân (nữ, độ tuổi 40 - 65) tham gia (có 1 người bị loại, kết quả chỉ còn 16 người hoàn thành) đã có sự cải thiện đáng kể về nếp nhăn, sắc tố, độ đàn hồi, độ săn chắc và giảm tổng thể tổn thương do ánh nắng gây ra trên làn da mà không có tác dụng phụ thường được quan sát thấy khi sử dụng retinol.

Hình 2: Tác dụng chống lão hóa của Bakuchiol. A: Trước khi sử dụng, B: Sau khi sử dụng 12 tuần [4]

Các bạn có thể thấy hiệu quả sử dụng Bakuchiol trong 12 tuần trong ảnh dưới đây. Phân loại lâm sàng và phân tích so sánh các phép đo cấu trúc da được thực hiện ngay từ đầu và sau 4, 8 và 12 tuần áp dụng. Sau 8 tuần nghiên cứu, độ sâu và độ nhám của nếp nhăn đã giảm đáng kể so với ban đầu. Những thay đổi này thậm chí còn lớn hơn sau 12 tuần áp dụng sản phẩm. Sự cải thiện đáng kể về các nếp nhăn, độ đàn hồi, độ săn chắc và cũng như giảm tổng thể các dấu hiệu ảnh hưởng bởi tia UV đã được quan sát thấy sau 12 tuần điều trị đã cung cấp thêm bằng chứng để xác nhận kết quả nghiên cứu ống nghiệm là Bakuchiol sở hữu chức năng tương tự như Retinol.

- Sau đó, có một số nghiên cứu cũng được thực hiện và có kết quả cũng khá khả quan, từ đó ủng hộ kết luận của nghiên cứu trên và bổ sung thêm thông tin về việc sử dụng Bakuchiol:

1 - Nghiên cứu vào năm 2019 - so sánh Bakuchiol và Retinol trong việc cải thiện các dấu hiệu lão hóa [1]. Đây là một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, kéo dài 12 tuần, trong đó 44 bệnh nhân được yêu cầu bôi kem chứa bakuchiol 0.5% hai lần mỗi ngày hoặc retinol 0,5% dạng kem mỗi ngày một lần. Hệ thống phân tích và chụp ảnh khuôn mặt đã được sử dụng để thu thập và phân tích các bức ảnh có độ phân giải cao của bệnh nhân ở tuần thứ 0, 4, 8 và 12. Bệnh nhân cũng hoàn thành các câu hỏi đánh giá khả năng dung nạp để xem xét các tác dụng phụ. Nghiên cứu này chứng minh rằng bakuchiol có thể so sánh với retinol về khả năng cải thiện dấu hiệu lão hóa gây ra bởi ánh sáng và dung nạp tốt hơn retinol. Bakuchiol được hứa hẹn là một chất thay thế dễ dung nạp hơn Retinol.

Tuy nhiên, nên chú ý là trong trường hợp này tần suất sử dụng Bakuchiol gấp đôi Retinol (2 lần mỗi ngày, trong khi Retinol chỉ được sử dụng 1 lần mỗi ngày)

2 - Một thử nghiệm lâm sàng đã được thực hiện trên những bệnh nhân bị mụn trứng cá. Có tổng cộng 111 bệnh nhân dùng gel adapalene 0,1% và phức hợp BGM (Bakuchiol, Ginkgo biloba extract, và Mannitol) hoặc kem bôi giả dược trong 2 tháng [11]. Vào cuối thử nghiệm, các tổn thương viêm và không viêm và cường độ tiết bã nhờn đã được cải thiện đáng kể ở cả hai nhóm điều trị. Trong đó, nhóm sử dụng Adapalene và BMG cải thiện nhiều hơn ở các tổn thương mụn viêm và cường độ tiết bã nhờn. Ngoài ra, chất lượng cuộc sống của nhóm BMG được đánh giá tốt hơn so với nhóm dùng giả dược. Mặc dù có một số ít người tham gia bỏ cuộc do kích ứng, tuy vậy nhưng nhìn chung đa phần kích ứng đều ở dạng nhẹ.

Cũng trong nghiên cứu này, họ xem xét chất nhờn của bệnh nhân tiết ra. Bệnh nhân dùng bakuchiol thì chất nhờn chứa nhiều Linoleic acid và giảm oleic acid (có khả năng gây viêm) hơn là nhóm chỉ dùng giả dược [O1].

Từ đó, tác giả kết luận là phức hợp BGM cải thiện kết quả điều trị của gel adapalene 0,1% ở những bệnh nhân bị mụn trứng cá. Nhìn chung, độ an toàn và khả năng dung nạp cục bộ của phức hợp BGM là tốt.

Tuy nhiên, nghiên cứu này sẽ tốt hơn nếu có thêm một nhóm chỉ sử dụng Adapalene để so sánh với nhóm sử dụng cả Adapalene và BMG.

3 - Ngoài ra, Bakuchiol cũng được xem là có thể ngăn chặn sự gia tăng của tế bào ung thư da trong nghiên cứu số [9].

4 - Một nghiên cứu gần đây cũng đề xuất một phân tử mới, bakuchiol salicylate, có thể tạo ra một chất có chức năng tương tự Retinoids nhưng loại bỏ một tác dụng phụ của các hợp chất Retinoids [16].

IV) Sử dụng Bakuchiol như thế nào?

- Nồng độ và kết hợp các hoạt chất: theo nghiên cứu [3], nồng độ Bakuchiol được khuyến nghị trong sản phẩm là 0.5 - 1% và độ ph sản phẩm có tính acid (<6.5). Bakuchiol cũng được tìm thấy là phù hợp khi kết hợp với Salicylic acid, Benzoyl peroxide, retinol và adapalene (Retinoids nói chung) [3,4,11]. Một số hoạt chất khác chưa có thông tin và nghiên cứu khi kết hợp với Bakuchiol, tuy nhiên nhìn chung Bakuchiol được xem là an toàn và lành tính nên theo ý kiến cá nhân thì Bakuchiol có thể dễ dàng kết hợp với các hoạt chất khác.

- Mức độ an toàn: Nhìn chung Bakuchiol được xem là an toàn khi sử dụng, tuy vậy Bakuchiol không phải 100% phù hợp với tất cả mọi người.

+ Theo [13] thì Bakuchiol có hoạt động kháng thai trên nghiên cứu động vật, có nghĩa là sẽ hạn chế khả năng tinh trùng có thể bám vào trứng để tạo nên phôi thai (tuy vậy, nghiên cứu này không chỉ rõ là theo đường uống hay đường thoa và với nồng độ bao nhiêu, do đó nếu đường thoa ngoài da thì phần trăm hấp thụ sẽ thấp hơn). Ngoài ra, Bakuchiol có khả năng biểu hiện gene khá giống retinol nên cũng không biết có hiệu quả gì đến phụ nữ có thai hay không. Cũng không rõ là Bakuchiol thoa ngoài ảnh hưởng cụ thể như thế nào, có khác gì đường uống, nồng độ và liều lượng như thế nào mới ảnh hưởng đến quá trình mang thai và cho con bú, do đó rất cần thêm nghiên cứu chứng minh cụ thể vấn đề này.

Nhìn chung, thông tin hiện tại chưa rõ ràng, chưa có nghiên cứu khẳng định là không nên dùng bakuchiol trong lúc mang thai - một số nguồn thông tin thì cho là dùng được, số khác thì lại nói là không. Để an toàn nhất, các bạn đang có kế hoạch mang thai nên hỏi ý kiến bác sĩ nhé.

+ Các báo cáo gần đây cũng có thông tin về Bakuchiol có khả năng gây dị ứng da và có thể gây viêm da tiếp xúc, mặc dù khá hiếm [14, 17].

=> Nhìn chung, Bakuchiol là một thành phần có tiềm năng lớn trong mỹ phẩm với khả năng điều trị mụn [3], cải thiện các dấu hiệu lão hóa tương tự như retinoids cũng như tăng sắc tố da [4] mà lại ít kích ứng hơn và có một số mặt trội hơn retinoids (ví dụ như các tổn thương mụn viêm), tuy vậy cũng có thể có một số điểm chưa bằng retinoids mà chúng ta chưa biết được do chưa đủ thông tin.

Do đó, nếu bạn muốn cải thiện lão hóa, mình nghĩ bạn nên sử dụng Retinol. Nếu da yếu quá thì có thể sử dụng Bakuchiol ban đầu, sau đó chuyển qua hẳn Retinol/ tretinoin. Tuy vậy, do Bakuchiol không nhạy cảm với ánh sáng nên các bạn nào muốn tăng cường thêm các hiệu quả “tương tự” retinol cho da thì việc thêm hoạt chất này vào routine buổi sáng là một lưa chọn khá ổn áp đây! Đặc biệt kết hợp Bakuchiol + Retinol cũng là một kết hợp đáng giá do Bakuchiol có thể tăng cường sự sẵn có của retinol nội sinh đó!

V) Một số sản phẩm chứa Bakuchiol

VI) Tài liệu tham khảo

A) Research

[1] Dhaliwal, S., Rybak, I., Ellis, S. R., Notay, M., Trivedi, M., Burney, W., ... & Yan, H. (2019). Prospective, randomized, double‐blind assessment of topical bakuchiol and retinol for facial photoageing. British Journal of Dermatology, 180(2), 289-296.
[2] Ferrándiz, M. L., Gil, B., Sanz, M. J., Ubeda, A., Erazo, S., González, E., ... & Alcaraz, M. J. (1996). Effect of bakuchiol on leukocyte functions and some inflammatory responses in mice. Journal of pharmacy and pharmacology, 48(9), 975-980.
[3] Chaudhuri, R. K., & Marchio, F. (2011). Bakuchiol in the management of acne-affected skin. Cosmetics and toiletries, 126(7), 502.
[4] Chaudhuri, R. K., & Bojanowski, K. (2014). Bakuchiol: a retinol‐like functional compound revealed by gene expression profiling and clinically proven to have anti‐aging effects. International journal of cosmetic science, 36(3), 221-230.
[5] Choi, S. Y., Lee, S., Choi, W. H., Lee, Y., Jo, Y. O., & Ha, T. Y. (2010). Isolation and anti-inflammatory activity of Bakuchiol from Ulmus davidiana var. japonica. Journal of medicinal food, 13(4), 1019-1023.
[6] Katsura, H., Tsukiyama, R. I., Suzuki, A., & Kobayashi, M. (2001). In vitro antimicrobial activities of bakuchiol against oral microorganisms. Antimicrobial agents and chemotherapy, 45(11), 3009-3013.
[7] Bapat, K., Chintalwar, G. J., Pandey, U., Thakur, V. S., Sarma, H. D., Samuel, G., ... & Venkatesh, M. (2005). Preparation and in vitro evaluation of radioiodinated bakuchiol as an anti tumor agent. Applied Radiation and Isotopes, 62(3), 389-393.
[8] Chen, Z., Jin, K., Gao, L., Lou, G., Jin, Y., Yu, Y., & Lou, Y. (2010). Anti-tumor effects of bakuchiol, an analogue of resveratrol, on human lung adenocarcinoma A549 cell line. European journal of pharmacology, 643(2-3), 170-179.
[9] Kim, J. E., Kim, J. H., Lee, Y., Yang, H., Heo, Y. S., Bode, A. M., ... & Dong, Z. (2016). Bakuchiol suppresses proliferation of skin cancer cells by directly targeting Hck, Blk, and p38 MAP kinase. Oncotarget, 7(12), 14616
[10] Xin, Z., Wu, X., Ji, T., Xu, B., Han, Y., Sun, M., ... & Yang, Y. (2019). Bakuchiol: a newly discovered warrior against organ damage. Pharmacological Research, 141, 208-213.
[11] Poláková, K., Fauger, A., Sayag, M., & Jourdan, E. (2015). A dermocosmetic containing bakuchiol, Ginkgo biloba extract and mannitol improves the efficacy of adapalene in patients with acne vulgaris: result from a controlled randomized trial. Clinical, cosmetic and investigational dermatology, 8, 187.
[12] Trompezinski, S., Weber, S., Cadars, B., Larue, F., Ardiet, N., Chavagnac-Bonneville, M., ... & Jourdan, E. (2016). Assessment of a new biological complex efficacy on dysseborrhea, inflammation, and Propionibacterium acnes proliferation. Clinical, cosmetic and investigational dermatology, 9, 233.
[13] Li, C. C., Wang, T. L., Zhang, Z. Q., Yang, W. Q., Wang, Y. F., Chai, X., ... & Li, Z. (2016). Phytochemical and pharmacological studies on the genus Psoralea: A Mini Review. Evidence-Based Complementary and Alternative Medicine, 2016.
[14] Raison‐Peyron, N., & Dereure, O. (2020). A new case of contact dermatitis to bakuchiol in a cosmetic cream. Contact Dermatitis, 82(1), 61-62.
[15] Madrid, A., Espinoza, L., González, C., Mellado, M., Villena, J., Santander, R., ... & Montenegro, I. (2012). Antifungal study of the resinous exudate and of meroterpenoids isolated from Psoralea glandulosa (Fabaceae). Journal of ethnopharmacology, 144(3), 809-811.
[16] Ma, S., Gobis, K., Swindell, W. R., Chaudhuri, R., Bojanowski, R., & Bojanowski, K. (2017). Synthesis and activity of the salicylic acid ester of bakuchiol in psoriasis‐surrogate keratinocytes and skin substitutes. Clinical and experimental dermatology, 42(3), 251-260.
[17] Malinauskiene, L., Linauskiene, K., Černiauskas, K., & Chomičiene, A. (2019). Bakuchiol—A new allergen in cosmetics. Contact dermatitis, 80(6), 398-399.
[18] Williams, H. C., Dellavalle, R. P., & Garner, S. (2012). Acne vulgaris. The Lancet, 379(9813), 361-372.

B) Others

[O1] Dr dray video: https://www.youtube.com/watch?v=6pEY7frtsOk

 
Bài trước Bài sau